TƯ BIỂN (KỲ 11): BẾN DẬU
⸻
Biển tháng sáu hiền như một người già vừa kể xong câu chuyện cũ.
Tư Biển ngồi trên mạn thuyền nhìn về phía dải đất nhô ra cuối Xóm Rớ. Mấy chiếc ghe vừa trở về sau chuyến lưới đêm, nối đuôi nhau cập bến. Tiếng máy nổ tắt dần, thay bằng tiếng người gọi nhau í ới và tiếng cá quẫy trong khoang.
Minh đứng bên cạnh, bỗng hỏi:
– Ba, sao chỗ này gọi là Bến Dậu?
Tư Biển im lặng một lúc.
Đó là câu hỏi mà chính anh cũng từng hỏi ông Hai Quý khi còn nhỏ.
⸻
Năm ấy, ông Hai Quý chưa đến năm mươi tuổi.
Ông nhìn ra biển rồi nói rất chậm:
– Vì có một năm người ta đói quá… đói đến mức phải bỏ quê mà đi.
– Năm nào vậy ba?
– Năm Ất Dậu.
Ngày đó, Tư Biển còn nhỏ nên chỉ nhớ được hai chữ “Ất Dậu”, còn nạn đói là gì thì chưa hiểu.
Bây giờ, đã năm mươi tuổi, anh mới hiểu hết sức nặng của hai chữ ấy.
⸻
Đầu năm 1945.
Miền Bắc chìm trong đói khát.
Những cánh đồng vẫn còn đó nhưng thóc gạo không còn thuộc về người nông dân. Người ta bán hết đồ đạc, bán trâu bò, bán cả ngôi nhà để đổi lấy vài lon gạo.
Rồi đến lúc chẳng còn gì để bán.
Trên những con đường làng, người gục xuống nhiều hơn người đứng dậy.
⸻
Cụ Tý khi ấy mới ngoài ba mươi.
Bên cạnh là cậu con trai sáu tuổi – Hai Quý – gầy đến mức hai mắt trũng sâu.
Người mẹ già đã mất từ trước.
Người vợ ôm đứa con nhỏ gần như không còn sức khóc.
Cụ Tý biết rằng nếu cứ ở lại thì cả nhà sẽ chết.
⸻
Tin tức về phương Nam lan theo những chuyến tàu.
Ở trong ấy còn đất, còn cá, còn người cần lao động.
Thế là họ bán nốt căn nhà tranh, đổi lấy mấy tấm vé và một ít lương khô.
Không ai biết chuyến đi sẽ đến đâu.
Chỉ biết phải đi.
⸻
Đoàn tàu chở đầy những gia đình giống như cụ Tý.
Không có tiếng cười.
Chỉ có tiếng bánh sắt nghiến trên đường ray và tiếng trẻ con khóc vì đói.
Hai Quý ngồi sát cửa sổ.
Cậu bé nhìn những cánh đồng lùi dần phía sau.
– Ba ơi… mình có về nữa không?
Cụ Tý không trả lời.
Ông chỉ kéo con vào lòng.
Đó là lần cuối cùng Hai Quý nhìn thấy quê cũ.
⸻
Sau nhiều ngày xuôi về phương Nam, gia đình cụ Tý đến vùng đất ven biển Phú Yên.
Biển ở đây khác hẳn biển ngoài Bắc.
Xanh hơn.
Ấm hơn.
Và rộng đến mức người tha hương cảm thấy trong lòng mình cũng rộng ra.
Những người dân địa phương chia nhau từng rổ cá, từng đấu gạo, giúp những người mới đến dựng lên những mái nhà đầu tiên.
Không ai hỏi họ từ đâu đến.
Chỉ hỏi:
– Ăn cơm chưa?
⸻
Nơi những chiếc ghe đầu tiên cập vào chỉ là một doi cát nhỏ.
Ban ngày là bãi kéo lưới.
Ban đêm là nơi những gia đình tha hương ngồi đốt lửa.
Một người già nói:
– Phải đặt cho nó một cái tên.
Có người đề nghị gọi theo tên xóm.
Có người muốn gọi theo tên cửa biển.
Nhưng cụ Tý lắc đầu.
– Gọi là Bến Dậu đi.
– Sao lại Bến Dậu?
Cụ nhìn đứa con trai đang ngủ, giọng trầm xuống:
– Để con cháu sau này biết đã từng có một năm như vậy. Để còn nhớ mà thương người đói, thương người mất quê.
Mọi người đều im lặng.
Từ hôm đó, cái tên Bến Dậu theo những con nước lớn lên cùng Xóm Rớ.
⸻
Ông Hai Quý chưa bao giờ kể chuyện ấy bằng giọng bi lụy.
Ông chỉ dặn Tư Biển:
– Mình nghèo cũng được, nhưng đừng để ai đói ngay trước cửa nhà mình.
Có lẽ vì vậy mà suốt đời ông, hễ ghe nào gặp nạn, hễ nhà nào mất mùa, ông đều sẵn sàng giúp một tay.
Ông bảo:
– Nhà mình cũng từng là người đi xin một bữa cơm.
⸻
Minh cúi xuống nhặt một vỏ sò bị sóng đánh lên.
Xa xa, mặt trời đang dần nghiêng về phía biển Đông.
Những chiếc ghe lại chuẩn bị cho chuyến ra khơi mới.
Cậu khẽ hỏi:
– Ba có tin câu chuyện này là thật không?
Tư Biển nhìn về phía Bến Dậu.
Nơi những con thuyền vẫn ngày ngày trở về.
Nơi một cái tên đã mang theo ký ức của cả một cuộc thiên di.
Anh mỉm cười:
– Có những chuyện không cần bia đá để chứng minh. Chỉ cần còn người nhớ, còn người kể, thì nó vẫn sống.
Gió biển lại thổi qua Xóm Rớ.
Mang theo mùi muối, mùi cá, và cả những ký ức của một đoàn người năm 1945 từng bước xuống sân ga xa lạ, rồi đi tiếp về phía biển, để từ đó bắt đầu một quê hương mới.