TƯ BIỂN (KỲ 5): NGƯỜI TỪ LÀ TỪ PHƯƠNG BẮC
TƯ BIỂN (KỲ 5): NGƯỜI TỪ LÀ TỪ PHƯƠNG BẮC
Ư BIỂN (KỲ 5): NGƯỜI TỪ LÀ TỪ PHƯƠNG BẮC
Mặt trời vừa ló dạng ở đằng đông, chiếu những tia nắng vàng nhạt lên từng mái ngói nhấp nhô cỉa bà con xóm Rớ. Tư Biển mới thật sự thở phào sau một chuyến đi vất vả. Hơn ai hết, anh biết với nghề đi biển, chỉ khi nào nhảy phốc xuống con nước cạn, lội từng bước chân mát lạnh để buộc sợi dây thừng xù xì vào một cột xi măng ở bến Dậu, neo con thuyền cho thật chặt thì khi đó nỗi lo mới tan biến theo từng con sóng.
Mới tầm 6 giờ sáng mà bến Dậu đã nhộn nhịp người thân, thương lái trông ngóng từng chuyến tàu cập bến. Các bà vợ thì vui mừng khi thấy chồng về bình an. Người mua cá tôm thì tranh nhau mong tìm những mẻ cá tươi ngon mà giá hời để kịp bán lại cho buổi chợ sáng. Trẻ con thì theo ra bến để nô đùa thỏa thích.
Như thường lệ, một tiếng còi tàu chợt vọng lên từ ga Đông Tác, cách đó chừng hơn cây số. Tư Biển nở một nụ cười với vợ. Anh dõi ánh mắt về phía tây, mong nhìn thấy đoàn tàu vụt qua con ga nhỏ để lao về ga Tuy Hòa lớn hơn gần đó.
Tư Biển lại nhớ về những buổi trưa, khi anh còn là một cậu bé như thằng Minh, anh hay được ba đèo sau chiếc xe đạp, đi từ xóm Rớ ra ngồi bên cạnh những cồn cát gần ga Đông Tác để chỉ mong nhìn một chuyến tàu lửa chạy vụt qua. Và làn nào ông Hai Lý cũng kể cho Tư Biển nghe về chuyến tàu mà ông Nội nó đã trải qua dịp tết Ất Dậu, 1945.
Thời Tây còn đô hộ, ông Cả Tý là một chức sắc nhỏ ở huyện Duy Tiên, phủ Hà Nam. Do có chút chữ nghĩa, cũng quen biết nhiều nên nhà cụ Tý mới cầm cự đến cái Tết chứ trong xã bà con đã bỏ làng mạc mà xuôi về Phủ Lý. Năm đó là nạn đói. Một thảm họa chưa từng có trong lịch sử: mùa màng thất bát, Nhật bắt bỏ lúa trồng cói, Pháp buông bỏ Đông Dương, lương thực trong Nam không ra được ngoài Bắc vì giao thông trắc trở,... Xác người nắm la liệt. Kẻ sống chôn kẻ chết, rồi sau đó cũng chết.
Cuối cùng cụ Tý cũng dắt díu vợ và 3 đứa con nhỏ bỏ quê hương Duy Tiên mà chạy đói về Phủ Lý, dù sao cũng còn miếng ăn. Tá túc nhà người quen vài tuần, trước tình cảnh quá bi đát, ông đành cùng vợ gồng gánh thằng Hai Lý (lúc đó mới 11 tuổi) và hai đứa em gái (có đứa mới 4 tuổi) lên tàu lửa xuôi về Nam. Ngày đó, người ta bỏ đi cả làng.
Chuyến xe lửa định mệnh mang theo bao nhiêu hy vọng của người phương Bắc cuối cùng buộc phải dừng tại ga Tuy Hòa vì năm đó đèo Cả hư hỏng nhiều quá, tàu không thể chui qua hầm. Mảnh đất Phú Yên (trù phú và bình yên) đã đón tiếp bước dân lưu lạc của gia đình bên nội Tư Biển cùng hàng trăm người may mắn thoát khỏi cái chết từ nạn đói đau thương. Chính vì vậy mà những cư dân đầu tiên của Xóm Rớ đã đặt tên Bến Dậu để nhắc nhớ về năm Ất Dậu kinh hoàng.
Cụ cả Tý mất khi Tư Biển còn quá nhỏ. Ông Hai Lý cũng đã về với ông bà tổ tiên. Nhưng những gì hồn quê, là truyền thống vẫn tiếp tục được Tư Biển gìn giữ và truyền lại cho thế hệ sau.