TƯ BIỂN (KỲ 4): PHIẾN ĐÁ CÓ TÌNH YÊU KHÔNG?
Sau một đêm dài nhọc nhằn, lòng Tư Biển dâng tràn một niềm vui khi nhìn mấy thùng nhựa lớn đầy ắp mực, con nào cũng tròn lẳng, thân mình còn lấp lánh các chấm đen như những vì sao đêm còn sót lại trên nền trời chưa sáng hẳn. Hai đứa thanh niên đang tranh thủ chợp mắt. Tư Biển vội kéo mẻ lưới cầu may, hy vọng kiếm thêm vài con cá ồ còn quanh quẩn gần mép thuyền. Mặt trời hơi ửng hồng phía chân trời, chiếc thuyền bắt đầu rẽ sóng tiến về đất liền cho kịp buổi chợ sáng.
Thằng Minh và thằng Hùng cũng vừa thức giấc. Minh dường như đã hết mệt. Giấc ngủ ngắn, cộng thêm gió biển buổi bình minh thổi mát lạnh làm nó thấy dễ chịu hơn. Nó đưa mắt nhìn về phía tây nơi ngọn hải đăng trên Mũi Điện vừa tắt đèn, báo hiệu một ngày mới bắt đầu. Thằng Hùng vỗ vai Minh, cười tươi như thể chúc mừng đứa bạn thân đã hoàn thành trọn vẹn chuyến ra khơi đầu tiên.
Bỗng nhiên Tư Biển giảm tốc, thả rề cho chiếc tàu trôi nhẹ về phía Hòn Lớn. Gọi là Hòn Lớn nhưng thật ra đó là một đảo nhỏ, gần đất liền nhất. Đứng trên Hòn Lớn có thể thấy lố nhố từng mái nhà Xóm Rớ. Thường ngư dân chưa có kinh nghiệm đi xa bờ, hoặc không có tàu lớn sẽ bơi ra Hòn Lớn quơ quào vài mẻ lưới dã cào kiếm tiền chợ. Hai đứa nhỏ quay đầu lại nhìn Tư Biển, thấy ông có vẻ trầm ngâm. Từng thước phim của 40 năm trước như đang tua lại, chậm chạp lưới qua trong tâm trí anh.
Đó cũng là một chiều mùa hè như hôm nay. Tư Biển khi đó là một cậu bé chừng 10 tuổi. Chiều muộn, Tư Biển cùng cha nó là bác Hai Quý bơi thúng ra Hòn Lớn câu mực. Hôm đó có áp thấp nhiệt đới nhưng ở đâu đó xa lắm, biển Xóm Rớ vẫn còn êm như mọi khi. Ông Hai Quý là một ngư dân kỳ cựu. Nghe đâu trước khi làm nghề biển, ông là lính hải quân của Việt Nam Cộng Hòa. Ông tướng cao lớn, khuôn mặt nghiêm nghị nhưng tính tình hiền lành, hiểu chuyện và hay giúp người khác từ chuyện chân tay đến làm giấy làm tờ.
Trời đang quang đãng. Bỗng đâu một cơn dông nổi lên. Mưa bắt đầu rơi. Tư Biển vẫn còn nhớ như in từng con sóng phủ đầu, đánh tới tấp vào chiếc thúng nhỏ. Hai Quý vội vã thu cần, chèo về phía Hòn Lớn để tránh gió. Gió mỗi lúc mỗi lớn, chiêc thúng mỗi lúc mỗi tròng trành. Cậu bé Biển bị sóng đánh ngã sóng soài dưới sàn, đầu va vào thùng nhựa đựng mực, chảy máu. Ông Hai Quý một tay ôm lấy đứa con nhỏ, một tay cố chèo về phía mấy mỏm đá lớn xung quanh đảo để tránh cơn cuồng nộ.
Hình ảnh cuối cùng còn đọng lại trong tâm trí của cậu bé là chiếc thúng bị một con sóng lớn đưa lên cao và lật úp ngay trên đầu con sóng. Tư Biển gào thét tuyệt vọng trong màn đêm đen kịt dưới thân chiếc thúng. Nó gần như ngạt thở. Bỗng đâu một bàn tay ôm lấy mình nó, đẩy thật mạnh ra khỏi chiếc thúng đang từ từ chìm xuống đáy biển.
Khi tỉnh lại, Tư Biển bàng hoàng thấy các chú, các bác là bạn đi biển của ba nó đứng xung quanh. Mắt ai cũng đỏ hoe. Nó nhìn cảnh tượng tơi tả xung quanh và đất trời như mờ mịt trước mặt cậu bé: Cha nó sau khi bị văng ra khỏi thúng đã liều mình, lặn xuống cứu nó ra khỏi chiếc thúng đang chìm nhưng cuối cùng ông không bơi ra kịp.
Kể từ hôm đó, mỗi lần qua Hòn Lớn, Tư Biển hoặc là ghé lại ngồi ưu tư, nghĩ ngợi xa xăm. Hoặc có khi vội lắm thì cũng dừng lại vài giây, cuối đầu chào những phiến đá dọc Hòn Lớn, như thể cảm tạ cho một tình yêu bao la của Người Cha - ông Hai Quý!